Tiêu chi được xem là thước đo trình độ phát triển và văn minh của các quốc gia là

Giới thiệu về cuốn sách này


Page 2

Giới thiệu về cuốn sách này

Thuật ngữ các nước phát triển được sử dụng để chỉ những quốc gia có thu nhập bình quân đầu người (thu nhập bình quân của mỗi người dân) hoặc tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu người cao, mức sống cao (chất lượng, số lượng hàng hóa và dịch vụ sẵn có trong xã hội), tuổi thọ cao (tuổi thọ trung bình dự kiến của công dân tại một quốc gia) và các phép đo khác liên quan đến chất lượng cuộc sống của cá nhân.

Tuy nhiên, các tiêu chí phải có sự tương quan thích hợp. Một quốc gia có GDP bình quân đầu người cao nhưng cơ sở hạ tầng kém và bất bình đẳng về thu nhập cũng không được xem là nền kinh tế phát triển.

Mặt khác, những yếu tố phi kinh tế như chỉ số phát triển con người (HDI), trình độ học vấn, tỷ lệ biết chữ và trình độ chăm sóc sức khỏe cũng phản ánh mức độ phát triển của một quốc gia.

Thế giới thứ nhất

Những nước phát triển còn được gọi là các quốc gia thuộc Thế giới thứ nhất, các nước công nghiệp phát triển, các nền kinh tế tiên tiến… Hầu hết quốc gia phát triển nằm ở Tây bán cầu, bao gồm Mỹ, Canada và các quốc gia Tây Âu. Australia và New Zealand cũng là những quốc gia phát triển.

Đa số nước châu Á không phải là nền kinh tế phát triển, nhưng một số ít đã đáp ứng được các tiêu chí cần thiết như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore. Các đặc khu hành chính của Trung Quốc bao gồm Hong Kong và Macau cũng được xếp vào nhóm nền kinh tế phát triển.

Khái niệm về các nước phát triển xuất hiện lần đầu trong Chiến tranh Lạnh. Năm 1952, nhà nhân chủng học và sử học người Pháp Alfred Sauvy (1898-1990) đặt ra thuật ngữ Thế giới thứ ba để mô tả tình trạng của những quốc gia nghèo khó trên thế giới.

Khi thuật ngữ này phổ biến, mọi người bắt đầu sử dụng cụm từ Thế giới thứ nhất để chỉ Mỹ và châu Âu, Thế giới thứ hai cho Liên Xô và các đồng minh. Theo thời gian, những thuật ngữ này trở nên lỗi thời. Các thuật ngữ quốc gia phát triển và quốc gia đang phát triển, vốn tập trung nhiều hơn vào yếu tố kinh tế, được sử dụng nhiều hơn.

Tiêu chi được xem là thước đo trình độ phát triển và văn minh của các quốc gia là

Một tiêu chí đánh giá quốc gia phát triển là tuổi thọ trung bình dự kiến của công dân. Ảnh: Reuters.

Theo trang Investopedia, mặc dù không có quy chuẩn nghiêm ngặt để đánh giá một quốc gia phát triển hay đang phát triển, tiêu chí phổ biến nhất được sử dụng để xác định là GDP bình quân đầu người.

Một số nhà kinh tế quốc tế đánh giá GDP bình quân đầu người từ 12.000-15.000 USD/năm là đủ để đánh giá một quốc gia vào nhóm phát triển. Tuy nhiên, một số khác cho rằng mức GDP bình quân đầu người tối thiểu của một quốc gia phát triển phải trên 25.000-30.000 USD.

Theo dữ liệu của Ngân hàng Thế giới (WB), GDP bình quân đầu người của một số quốc gia phát triển tiêu biểu thế giới năm 2019 như Mỹ là 65.111 USD/năm, Australia 54.907 USD/năm, Đức 46.259 USD/năm, Nhật Bản 40.847 USD/năm. Dữ liệu cho thấy GDP bình quân đầu người của Việt Nam năm 2019 là 2.715 USD/năm, tăng 5,79% so với năm 2018.

Chỉ số phát triển con người

Như vậy, GDP bình quân đầu người của Mỹ cao gấp 24 lần của Việt Nam. Con số này của Đức, Singapore và Nhật Bản cao hơn Việt Nam lần lượt 17, 24, 14 lần. Trong số các quốc gia đang phát triển với nền kinh tế chuyển đổi trong khu vực, GPD bình quân đầu người của Trung Quốc là 10.262 USD/năm, Malaysia 11.415 USD/năm và Thái Lan 7.808 USD/năm, tức cao gấp Việt Nam từ 4-5 lần.

Tuy nhiên, một nền kinh tế phát triển không chỉ được đánh giá dựa trên GDP bình quân đầu người. Điển hình là trường hợp của Qatar. Đây là một trong những quốc gia có GDP bình quân đầu người cao nhất thế giới (69.688 USD vào năm 2019).

Xem thêm:  Cách sử dụng điều hòa 2 chiều panasonic

Tuy nhiên, nước này bị Liên Hợp Quốc xếp vào nhóm nền kinh tế đang phát triển. Nguyên nhân là quốc gia này có sự bất bình đẳng về thu nhập, thiếu cơ sở hạ tầng quan trọng, ít cơ hội giáo dục cho công dân có thu nhập trung bình và thấp.

Một yếu tố khác được sử dụng để xác định quốc gia có phát triển hay không là chỉ số phát triển con người (HDI). Chỉ số này xem xét ba yếu tố, bao gồm tỷ lệ biết chữ, mức độ tiếp cận giáo dục và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, được định lượng thành con số chuẩn hóa từ 0 đến 1. Hầu hết nước phát triển có chỉ số HDI trên 0,8.

Tiêu chi được xem là thước đo trình độ phát triển và văn minh của các quốc gia là

10 quốc gia và vùng lãnh thổ có chỉ số HDI cao nhất thế giới trong năm 2019. Ảnh: Human Development Report Office 2019.

Năm 1993, Liên Hợp Quốc bắt đầu sử dụng xếp hạng HDI để xếp hạng các quốc gia và vùng lãnh thổ theo chất lượng cuộc sống của công dân. Năm 2019, Na Uy được xếp hạng cao nhất với chỉ số HDI 0,954. Theo sau lần lượt là Thụy Sĩ (0.946), Ireland (0,942) và Đức (0,939).

Năm 2019, Việt Nam tiến sát mức cao về HDI và nằm trong nhóm các nước có tốc độ tăng trưởng HDI cao nhất trên thế giới. Với chỉ số HDI 0,63, Việt Nam chỉ cần thêm 0,007 điểm để tiến vào nhóm những quốc gia có HDI ở mức cao.

Đối với những quốc gia khó phân loại hơn, các chuyên gia kinh tế còn xác định tình trạng phát triển thông qua những yếu tố xã hội khác như tuổi thọ của người dân hay tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh. Hầu hết nền kinh tế phát triển đều có tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh thấp hơn 10/1.000 trẻ và tuổi thọ trung bình của người dân đạt từ 75 tuổi trở lên.

Nền kinh tế phát triển là gì? GDP và tiêu chí nền kinh tế phát triển?

Phát triển Kinh tế là các chương trình, chính sách hoặc hoạt động nhằm cải thiện phúc lợi kinh tế và chất lượng cuộc sống cho cộng đồng. “Phát triển kinh tế” có ý nghĩa như thế nào đối với bạn sẽ phụ thuộc vào cộng đồng bạn đang sống. Mỗi cộng đồng có những cơ hội, thách thức và ưu tiên riêng. Kế hoạch phát triển kinh tế của bạn phải bao gồm những người sống và làm việc trong cộng đồng.

Phát triển kinh tế, quá trình chuyển đổi các nền kinh tế quốc dân giản đơn, có thu nhập thấp thành nền kinh tế công nghiệp hiện đại. Mặc dù thuật ngữ này đôi khi được sử dụng như một từ đồng nghĩa với tăng trưởng kinh tế, nói chung nó được sử dụng để mô tả sự thay đổi trong nền kinh tế của một quốc gia liên quan đến những cải tiến về chất cũng như định lượng. Lý thuyết về phát triển kinh tế – làm thế nào các nền kinh tế sơ khai và nghèo nàn có thể phát triển thành các nền kinh tế phức tạp và tương đối thịnh vượng – có tầm quan trọng thiết yếu đối với các nước kém phát triển, và các vấn đề phát triển kinh tế thường được thảo luận trong bối cảnh này.

Dịch vụ Luật sư tư vấn pháp luật qua điện thoại: 1900.6568

1. Nền kinh tế phát triển là gì?

Phát triển kinh tế lần đầu tiên trở thành mối quan tâm lớn sau Thế chiến thứ hai. Khi kỷ nguyên của chủ nghĩa thực dân châu Âu kết thúc, nhiều thuộc địa cũ và các nước khác có mức sống thấp bị gọi là các nước kém phát triển, để đối chiếu nền kinh tế của họ với các nước phát triển, được hiểu là Canada, Hoa Kỳ, các nước phương Tây. Châu Âu, hầu hết các nước Đông Âu, sau đó là Liên Xô, Nhật Bản, Nam Phi, Úc và New Zealand. Khi mức sống ở hầu hết các nước nghèo bắt đầu tăng lên trong những thập kỷ sau đó, chúng được đổi tên thành các nước đang phát triển.

Trong tiếng anh nền kinh tế phát triển được biết đến với tên gọi đó chính là Developed Economy.

Xem thêm:  1 lăng kính thủy tinh có góc chiết quang a=5

Nền kinh tế phát triển là đặc điểm điển hình của một nước phát triển với mức độ tăng trưởng kinh tế và an ninh tương đối cao. Các tiêu chí tiêu chuẩn để đánh giá trình độ phát triển của một quốc gia là thu nhập bình quân đầu người hoặc tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người, mức độ công nghiệp hóa, mức sống chung và số lượng cơ sở hạ tầng công nghệ.

Nền kinh tế phát triển là một khu vực, điển hình là một quốc gia, có mức độ giàu có và các nguồn lực sẵn có cho người dân hoặc công dân của nó. Một nền kinh tế phát triển là một khu vực, điển hình là một quốc gia, có rất nhiều của cải và tài nguyên có sẵn cho cư dân hoặc công dân của nó.Các nền kinh tế phát triển có xu hướng thể hiện kết quả tốt hơn trên các chỉ số đo lường, đây là cách để đo lường các yếu tố kinh tế và phi kinh tế của một quốc gia.Bốn khía cạnh của một nền kinh tế phát triển tốt hơn là một nền kinh tế hiệu quả, một chính thể đáp ứng, một xã hội bình đẳng và một nền hành chính có năng lực.

Các yếu tố phi kinh tế, chẳng hạn như chỉ số phát triển con người (HDI), chỉ số đánh giá trình độ học vấn, khả năng đọc viết và sức khỏe của một quốc gia thành một con số duy nhất, cũng có thể được sử dụng để đánh giá một nền kinh tế hoặc mức độ phát triển.

Các quốc gia có mức tăng trưởng kinh tế và an ninh tương đối cao được coi là có nền kinh tế phát triển. Các tiêu chí chung để đánh giá bao gồm thu nhập bình quân đầu người hoặc tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người. Nếu tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người cao nhưng một nước có cơ sở hạ tầng kém và bất bình đẳng về thu nhập thì nước đó sẽ không được coi là nền kinh tế phát triển. Các yếu tố phi kinh tế, chẳng hạn như chỉ số phát triển con người, cũng có thể được sử dụng làm tiêu chí. Các nền kinh tế đang phát triển thường được toàn cầu hóa giúp đạt được mức thu nhập được cải thiện và mức sống tăng lên.

Các thuật ngữ như “các nước mới nổi”, “các nước kém phát triển” và “các nước đang phát triển” thường được sử dụng để chỉ các nước không được hưởng cùng mức độ an ninh kinh tế, công nghiệp hóa và tăng trưởng như các nước phát triển. Thuật ngữ “quốc gia thuộc thế giới thứ ba” để mô tả một nhà nước ngày nay được coi là cổ hủ và xúc phạm. Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển lưu ý rằng các quốc gia kém phát triển nhất thế giới “bị coi là rất thiệt thòi trong quá trình phát triển của họ — nhiều quốc gia trong số đó vì lý do địa lý — và (đối mặt) nhiều hơn các quốc gia khác về nguy cơ không thoát khỏi đói nghèo . ” Những người ủng hộ toàn cầu hóa thường khẳng định rằng toàn cầu hóa đang giúp đưa các nền kinh tế đang phát triển thoát khỏi đói nghèo và tiến tới con đường nâng cao mức sống, lương cao hơn và sử dụng công nghệ hiện đại. Những lợi ích này chủ yếu đã được chứng kiến ​​ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Mặc dù toàn cầu hóa chưa bắt rễ ở tất cả các nền kinh tế đang phát triển, nhưng nó đã cho thấy sự cải thiện các nền kinh tế ở những nền kinh tế mà nó có. Nói như vậy, toàn cầu hóa đi kèm với những hạn chế cũng như cần phải được đánh giá khi đầu tư nước ngoài chảy vào một nền kinh tế đang phát triển.

Xem thêm: Chế độ công hữu là gì? Vấn đề công hữu trong nền kinh tế Xã hội chủ nghĩa?

2. GDP và tiêu chí nền kinh tế phát triển:

Chỉ số phổ biến nhất được sử dụng để xác định xem một nền kinh tế đang phát triển hay đang phát triển là tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu người, mặc dù không có mức nghiêm ngặt nào tồn tại đối với một nền kinh tế được coi là đang phát triển hay đang phát triển. Một số nhà kinh tế coi GDP bình quân đầu người từ 12.000 đến 15.000 đô la là đủ cho tình trạng phát triển trong khi những người khác không coi một quốc gia là phát triển trừ khi GDP bình quân đầu người của quốc gia đó trên 25.000 đô la hoặc 30.000 đô la. GDP bình quân đầu người của Hoa Kỳ năm 2019 là 65.111 đô la.

Xem thêm:  Công trình nào sau đây là thành tựu của cư dân cổ đại phương Tây

Đối với các quốc gia khó phân loại, các nhà kinh tế chuyển sang các yếu tố khác để xác định tình trạng phát triển. Các biện pháp tiêu chuẩn sống, chẳng hạn như tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh và tuổi thọ, rất hữu ích mặc dù cũng không có ranh giới nhất định cho các biện pháp này. Tuy nhiên, hầu hết các nền kinh tế phát triển có ít hơn 10 trẻ sơ sinh tử vong trên 1.000 trẻ sinh sống và công dân của họ sống trung bình từ 75 tuổi trở lên. Chỉ riêng GDP bình quân đầu người cao không tạo nên nền kinh tế phát triển nếu không có các yếu tố khác.

Ví dụ, Liên hợp quốc vẫn coi Qatar, một trong những quốc gia có GDP bình quân đầu người cao nhất thế giới năm 2019 ở mức 69.688 USD, là một nền kinh tế đang phát triển vì quốc gia này có sự bất bình đẳng về thu nhập, thiếu cơ sở hạ tầng và cơ hội giáo dục hạn chế cho những công dân không giàu có. Ví dụ về các quốc gia có nền kinh tế phát triển bao gồm Hoa Kỳ, Canada và phần lớn Tây Âu, bao gồm cả Vương quốc Anh và Pháp.

Để định lượng mức độ phát triển của nền kinh tế, các nhà kinh tế đã xây dựng các chỉ số đo lường các yếu tố nói trên. Một số chỉ số thường được sử dụng để đo lường các yếu tố kinh tế:

– Tổng sản phẩm trong nước (GDP)

– GDP bình quân đầu người

– Tổng thu nhập quốc dân (GNI)

– Thu nhập bình quân đầu người

Xem thêm: Nền kinh tế thị trường là gì? Đặc điểm và nền kinh tế thị trường hiện đại?

Về mặt logic, các nền kinh tế phát triển có xu hướng đạt điểm cao hơn trong các phép đo trên.

Vì các yếu tố phi kinh tế cũng góp phần vào việc đánh giá một nền kinh tế phát triển, các nhà nghiên cứu sử dụng proxy của các phép đo. Hai chỉ mục thường được sử dụng là:

– Chỉ số Phát triển Con người (HDI)

– Chỉ số Hạnh phúc Thế giới

Chỉ số Phát triển Con người chỉ định các quốc gia có điểm từ 0 đến 1 bằng cách sử dụng các thước đo như “cuộc sống lâu dài và khỏe mạnh”, “giáo dục” và “mức sống”, trong khi Chỉ số Hạnh phúc Thế giới đo lường mức độ hạnh phúc thông qua khảo sát “mức độ hạnh phúc . ” Mặc dù các phép đo không liên quan trực tiếp đến phát triển kinh tế, các nền kinh tế phát triển vẫn có xu hướng ghi điểm cao hơn. Hơn nữa, những mối tương quan này làm nổi bật các mối quan hệ quan trọng giữa các yếu tố phi kinh tế và các nền kinh tế năng suất hơn. Nghĩa là, cải thiện tốt hơn các yếu tố phi kinh tế của một quốc gia – chẳng hạn như giáo dục và chăm sóc sức khỏe cho công dân – là điều cần thiết để phát triển kinh tế tốt hơn.

HDI xem xét ba mức tiêu chí sống – tỷ lệ biết chữ, tiếp cận giáo dục và tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe – và lượng hóa dữ liệu này thành một con số chuẩn hóa từ 0 đến 1. Hầu hết các nước phát triển đều có chỉ số HDI trên 0,8. Liên hợp quốc, trong bảng xếp hạng HDI hàng năm của mình, báo cáo rằng vào năm 2019, Na Uy có HDI cao nhất thế giới ở mức 0,954. Hoa Kỳ đứng thứ 15 với 0,920. 10 quốc gia đứng đầu trong chỉ số HDI là Na Uy, Thụy Sĩ, Ireland, Đức, Hồng Kông (Trung Quốc), Australia, Iceland, Thụy Điển, Singapore và Hà Lan. Niger có điểm chỉ số phát triển con người thấp nhất với 0,377 trên 189 quốc gia.

Thuộc website harveymomstudy.com

Related Posts