Thầy Thích Chân Tính bao nhiều tuổi

TIỂU SỬ HÒA THƯỢNG NGỘ CHÂN TỬ (1901-1988) ( HÒA THƯỢNG KHAI SƠN CHÙA HOẰNG PHÁP)

Hòa thượng Ngộ Chân Tử thế danh là Trần Rinh, sinh ngày mùng 3 tháng 3 năm Tân Sửu (1901), tại tỉnh Thái Bình trong một gia đình Nho học. Thân phụ là cụ Trần Quán, thân mẫu là cụ Trần Thị Phược. Ngài là anh cả trong số năm anh em (3 trai, 2 gái).

Bạn đang xem: Thích chân tính tiểu sử

Sớm hấp thụ và thâm hiểu Nho học từ thời niên thiếu, khi trưởng thành ngài chuyển sang nghiên cứu Phật học theo sự hướng dẫn của Sư Tổ Quang Huy. Nhờ túc căn sẵn có, lại thêm siêng năng nghiên cứu; nên không bao lâu ngài đã thâm nhập Phật pháp, nhận thấy nhân sinh đa hoạn, thế sự vô thường, bả lợi danh như trò ảo hóa, mạng sống thật mong manh ngắn ngủi. Như lời Tổ Quy Sơn đã dạy:

Sáng còn đó đến giờ chiều mất,Sát na qua một giấc đời sau.Ví như sương mốc sáng nào,Ánh dương xuất hiện biến vào hư không.Cây bên bờ dây trong thành giếng,Không bao giờ miên viễn dài lâu.Niệm niệm mau chóng nhiệm mầu,Chỉ trong hơi chuyển bắt đầu lai sinh.

Do vậy ngài nghĩ mình phải sống như thế nào cho xứng đáng không uổng một kiếp người. Vì “làm người chỉ xứng với danh nghĩa con người chừng nào người ta đấu tranh để thắng thiên nhiên, cả nội giới lẫn ngoại giới. Chinh phục ngoại giới là một công trình vĩ đại, nhưng chinh phục được nội giới lại còn vĩ đại hơn ! Hiểu được những định luật chi phối các vì sao và các hành tinh khác là một điều hay, nhưng hiểu được những định luật chi phối những tham vọng, tình cảm và ý chí của con người còn hay và khó gấp bội phần”. Do đó ngài quyết tâm hướng tâm về đạo giải thoát của Đức Từ phụ Thích Ca Mâu Ni, để tìm cầu chân lý. Sau một thời gian tầm sư học đạo ngài đã gặp được Tôn Sư Hư Không Tử thường du hóa tha phương, hành đạo theo hạnh Độc giác và chuyên giảng kinh hóa độ quần mê. Với lời giảng thanh thoát và dung mạo uy nghiêm, biểu thị một bậc chân tu thoát tục, Tôn Sư đã mau chóng cảm hóa ngài. Vào ngày mùng 8 tháng 2 năm Kỷ Mùi, ngài được Tôn Sư trao truyền quy giới với pháp danh Ngộ Chân Tử. Sau đó ngài đã đắc pháp với cụ Tổ chùa Bà Đá – Hà Nội.

Năm Kỷ Mùi (1919), trên bước đường vân trình theo thầy học đạo, ngài đã được nhân duyên chiêm bái nhiều nơi cổ tích danh lam. Khi qua Yên Tử, lúc đến Côn Sơn, rồi Non Nước, Tam Đảo, Tản Viên, Hương Tích, chùa Thầy, đều là những thắng địa cho việc tọa thiền tu tập.

Năm 1927, ngài xin phép thầy trở về trùng tu chùa làng tại Cao Mại, Kiến Xương, tỉnh Thái Bình và thỉnh Tôn Sư đến giảng kinh. Cao đức của Tôn Sư và nhiệt tâm của ngài đã chuyển hóa gia đình quy hướng Phật đạo, đồng tâm xả tục, phát nguyện trai giới tu hành, đem hết tài sản ruộng vườn hiến cúng Tam Bảo để mở mang Phật sự.

Từ năm 1929 đến năm 1932, ngài đến trùng tu các chùa Quan Âm tỉnh Kiến An; chùa làng Úc Gián huyện Kiến Thụy; chùa Quang Đẩu huyện An Lão; chùa Kiền Bái, chùa Côn Sơn, chùa Đỗ Xá huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương; chùa Phù Cốc, chùa Khánh Vân phủ Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

Năm 1935, ngài mua đất tại Kiến An và sáng lập chùa Hoằng Pháp độ chúng tu hành, hoằng truyền giáo pháp.Trải qua một thời gian dài tu hành, ngài nhận thấy con đường đến Phật quả phải thực hành Bồ tát hạnh và lấy lục độ Ba la mật làm pháp tu căn bản. Do vậy, năm 1938, để thực hiện tinh thần bố thí Ba la mật, ngài đã thành lập Viện Dục Anh tại tỉnh Kiến An, thu nhận các trẻ em nghèo khổ, mất cha hoặc mất mẹ, thiếu tình thương về nuôi dạy cho ăn học thành tài. Ngoài việc nuôi dạy cô nhi ra ngài còn mở thêm tiểu thủ công nghiệp, để giúp đỡ những người nghèo khó có phương tiện sinh sống. Việc làm này được chính quyền đương thời và chư tôn thiền đức hết sức tán thán và ủng hộ, vì nó đã thể hiện được tinh thần từ bi cứu khổ của đạo Phật. Như lời một vị Sa môn đã ca ngợi:

Đến thăm Hoằng Pháp Dục Anh đườngCảnh đẹp nhờ tay khéo chủ trươngLũ trẻ theo duyên bao kiếp lạiMột thầy đủ phúc mấy lần đươngQuý thay ngọc ẩn sau mình vảiVui thực vàng phô trước mắt thườngChúc nguyện chùa này ngày thịnh vượngĐàn em tắm mát nước cành dương.

Năm 1945 (Ất Dậu), chiến tranh Pháp – Nhật xảy ra trên quê hương, nạn đói tràn lan miền Bắc, thây chết đầy đường, tiếng khóc than như xé ruột. Đứng trước thảm cảnh tang thương của đồng bào, ngài đã vận động các cơ quan từ thiện và những nhà hảo tâm tiếp sức với chùa, tổ chức cứu tế xã hội giúp đỡ cơm áo thuốc men cho những người đói, bệnh. Hằng ngày, ngài cùng với bổn đạo kéo xe đi nhặt các tử thi xấu số không người thừa nhận về mai táng.

Xem thêm:  Cách ghi âm giọng nói vào máy tính

Năm 1953, ngài mua hai mẫu đất tại tỉnh Hải Phòng, mở tùng lâm tu viện nay là chùa Phổ Chiếu, và lập thêm Viện Dưỡng Lão giúp đỡ người già yếu có nơi an dưỡng, tu niệm.

Xem thêm: Download Sách Cởi Trói Linh Hồn Pdf Doc, Download Sách Cởi Trói Linh Hồn

Năm 1955, với mục đích hoằng dương Phật Pháp đến khắp mọi miền, Hòa thượng đã hành đạo đến miền Nam qua các nơi như Gò Công, Cai Lậy, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, Châu Đốc.

Năm 1957, nhận thấy Gia Định là nơi thuận duyên trong việc hành đạo, ngài liền mua sáu mẫu đất tại xã Tân Hiệp, huyện Hóc Môn, sáng lập chùa Hoằng Pháp, làm nơi tu hành và hoằng dương Phật Pháp, tiếp độ Tăng chúng, hướng dẫn Phật tử tu học.

Năm 1965, trước cảnh màn trời chiếu đất, nhà tan cửa nát của đồng bào bị chiến tranh tàn phá tại Đồng Xoài, Thuận Lợi, Hòa thượng đã đón nhận 60 gia đình gồm 361 nhân khẩu về chùa nuôi ăn trong 8 tháng. Sau đó, xây cất khu định cư gồm 55 căn nhà vách tường mái tôn cấp cho đồng bào với đầy đủ các đồ dùng cần thiết trong gia đình.Năm 1968, ngài thành lập Giáo Hội Đạo Tràng Thiền Học, nhằm mục đích mở rộng việc truyền bá giáo lý đạo Phật đến khắp mọi miền đất nước. Ngài cũng đã tiếp nhận và trùng tu ngôi chùa Thiện Phước tọa lạc tại số 192/11 đường Nguyễn Trãi, quận 5, Sài Gòn làm nơi giảng kinh thuyết pháp, phổ biến kinh sách.

Cũng năm 1968, chiến tranh vẫn tiếp diễn tàn khốc trên quê hương đất nước, những trẻ thơ mất cha lạc mẹ bơ vơ không nơi nương tựa hoặc nghèo đói thất học ngày càng nhiều. Một lần nữa, ngài lại thành lập Viện Dục Anh tại xã Tân Hiệp, huyện Hóc Môn, tiếp nhận cô nhi và bần nhi từ 6 đến 8 tuổi, khoảng 355 em, nuôi dạy miễn phí, rèn luyện đức trí, thể dục để trở thành người hữu dụng cho đất nước trong tương lai.

Năm 1974, mặc dù tuổi đã cao, nhưng với hạnh nguyện từ bi vô lượng, ngài đã mua 45 mẫu đất tại ấp Phú Đức, xã Tân Tạo, huyện Bình Chánh, dự định thực hiện một chương trình xây dựng làng cô nhi Việt Nam với đầy đủ phương tiện cho các em sinh hoạt và một đền thờ quốc tổ Hùng Vương để nhắc con cháu nhớ đến công cuộc mở nước và dựng nước của các vua Hùng oanh liệt thuở trước. Công việc đang được tiến hành xây dựng thì đến tháng 4 – 1975 đất nước được thống nhất, ngài đã hiến số đất đó cho Ban Quản trị khu kinh tế mới sử dụng, hiện nay là nông trường Lê Minh Xuân.

Từ sau 1975, Hòa thượng vẫn tiếp tục những công tác từ thiện xã hội cho đất nước. Mặc dù tuổi cao sức yếu và kinh tế eo hẹp, Hòa thượng vẫn đóng góp hàng tháng vào trường Cao cấp Phật học và trong cuộc hỏa hoạn ở chợ nhỏ phường 24 quận 1 đường Nguyễn Cảnh Chân, TP. Hồ Chí Minh, ngài đã cứu trợ 3 đợt cho 31 hộ tại đó.

Với tâm nguyện hoằng pháp để giác ngộ nhân sinh, mặc dù bận rộn rất nhiều công tác Phật sự và từ thiện xã hội, Hòa thượng cũng vẫn không quên việc truyền bá chánh pháp, ngài đã biên soạn một số kinh sách ấn tống như:

1) Kinh Nhật tụng (soạn riêng cho chùa tụng đọc)2) Nghi luật tu trì thiết yếu3) Quy giới hành trì4) Sự tích nhân quả báo ứng5) Tuyên dương diệu pháp6) Đạo giải thoát7) Tuyên dương chánh pháp8) Trên đường hành đạo9) Khóa niệm tùy thân10) Lược sử Phật Tổ

Suốt cuộc đời hành đạo từ Bắc chí Nam, Hòa thượng đã cống hiến trọn đời mình cho đạo pháp và dân tộc. Thật đúng với câu “xả phú cầu bần, xả thân cầu đạo” vì Hòa thượng ăn thì cơm hẩm, mặc thì áo bô, có những lúc thấy dân tình đói khổ, Hòa thượng đã nhịn bớt phần mình, chỉ dùng rau luộc muối mè và bảo đồ chúng phải thật tiết kiệm, để giúp đỡ cho những người nghèo khổ.

Xem thêm: Du Lịch Chùa Thanh Lương Có Tượng Phật Ẩn Mình Dưới Nước Độc Đáo

Quanh năm suốt đời ở túp lều tranh, vách đất, nhưng mang trong lòng một hoài bão hoằng pháp lợi sinh. Dầu đến lúc gần lìa cõi tạm, vẫn còn chưa thỏa nguyện bình sinh. Mỗi khi các đệ tử xa gần về thăm là ngài cứ nhắc nhở : “Hãy tinh tấn tu hành, chuyên cần niệm Phật đừng để vọng niệm theo trần cảnh. Vẫn biết nhị đế phải dung thông, nhưng trong cái tùy duyên với muôn nghìn phương tiện thiện xảo ấy, các con đừng để bị nhận chìm trong tục đế mà phải như đóa sen thanh khiết nơi vùng bùn lầy nước đục. Tuy bất cứ hoàn cảnh hay trạng huống nào vẫn xứng đáng với con dòng họ Thích, đừng phản bội lại lý tưởng của chính mình”.

Đất thảm trời sầu Hòa thượng quyĐau lòng Phật tử với Tăng NiNhớ thương Đại lão tâm Bồ tátKính mến cao Tăng hạnh đại biGiáo lý in kinh rèn đệ tửĐạo vàng lập trại cứu cô nhiĐại hiền rũ thoát nơi trần tụcNghĩa nặng ơn sâu đức độ trì

Xem thêm:  Cách pha siro dâu tây

Home » Tiểu Sử » Tiểu sử Sư Ông Chân Tính » CHÙA HÒA PHÚC

1. ĐÔI NÉT VỀ THẦY THÍCH CHÂN TÍNH – Ban Biên soạn

Thầy Thích Chân Tính, thế danh Nguyễn Sỹ Cường, sinh năm 1958, tại Daklak, nguyên quán Bắc Ninh. Thầy là con thứ 2 trong gia đình có 7 anh chị em, thân phụ là cụ Nguyễn Sỹ Hiệu theo nghiệp nhà binh, thân mẫu là cụ Nguyễn Thị Đảng đảm đang việc nội trợ. Quãng thời thơ ấu của Thầy ngoài việc làm lụng phụ giúp gia đình, với bẩm tính siêng năng, hiếu học và rất mê đọc sách nên Thầy đã tích lũy cho mình được một nguồn tri thức vững vàng.

Bạn đang đọc: Tiểu sử Sư Ông Chân Tính » CHÙA HÒA PHÚC

Thầy Thích Chân Tính bao nhiều tuổi

Năm 1973, vào dịp nghỉ hè, nhân đọc cuốn sách “ Lược Truyện Đức Phật Thích Ca ”, Thầy đã hiểu về lý vô thường và thấy rõ thực chất đời sống trần gian là giả tạm. Từ đó, thiện căn ngày càng tăng trưởng và chủng tử Phật pháp như được hồi sinh phát khởi, do vậy, trong thời hạn này, đã có lúc Thầy trốn nhà vào chùa xin xuất gia học đạo, trước ý chí quyết tâm tha thiết hướng về Phật pháp, sau cuối nguyện vọng xuất gia học đạo cao quý của Thầy cũng được mái ấm gia đình chấp thuận đồng ý .Cuối năm 1973, khi vừa tròn 15 tuổi, Thầy xuất gia với Đại lão Hòa thượng Ngộ Chân Tử tại chùa Hoằng Pháp. Xuất gia được 3 năm, năm 1976 Thầy được ân sư cho thọ giới Sa-di .Đến năm 1979, Thầy vào TP. TP HCM theo học những khóa Phật học. Năm 1981, Thầy thọ giới Tỳ-kheo, tại giới đàn chùa Long Hoa, Q. 3. Bên cạnh việc học Phật, năm 1985, Thầy là sinh viên khoa Ngữ Văn, trường Đại học Tổng hợp TP. TP HCM ( nay là trường ĐHKHXH&NV ) .Năm 1988, khi Hòa thượng ân sư viên tịch, Thầy được Giáo hội và huynh đệ trong tông môn tin tưởng giao trách nhiệm tiếp nối trụ trì chùa Hoằng Pháp cho đến ngày này. Vào cuối năm 1998, Thầy có chuyến hoằng pháp tại Đài Loan. Nhận thấy phương pháp hành trì, tu tập của chư Tăng và Phật tử nước bạn rất văn minh nên khi về nước, Thầy đã mạnh dạn biến hóa. Thầy quyết tâm triển khai quy mô tu tập dựa trên những kiến thức và kỹ năng đã học, nhưng có nhiều cải cách để tương thích hơn với truyền thống dân tộc bản địa, quốc gia, con người Nước Ta nói chung và Phật tử Nước Ta nói riêng. Từ đó, những Khóa Tu Phật Thất được mở ra và tăng trưởng cho đến ngày ngày hôm nay .Năm 2005, với xu thế phát huy ý thức hiếu đạo của con cháu so với cha mẹ, tập trung chuyên sâu rèn luyện nhân cách, đạo đức làm người và tăng trưởng nhận thức về lý nhân quả cho những bạn trẻ, lần tiên phong Thầy tổ chức triển khai Khóa Tu Mùa Hè dành cho thanh thiếu niên để những bạn có thời cơ về chùa tu học .Có nhiệt huyết, đạo tâm và tham vọng lớn trong những công tác làm việc Phật sự, nhất là trong việc ứng dụng giáo lý đạo Phật vào đời sống mái ấm gia đình, Thầy đã dành nhiều tâm sức suy ngẫm về yếu tố thay đổi phương pháp hoằng pháp, sao cho tương thích với căn nguyên và trình độ của quần chúng nhân dân, nhằm mục đích gieo duyên cho mọi người biết quay về phụ thuộc Tam bảo .

Hằng năm, ngoài việc tổ chức các công tác Phật sự tại bổn tự, Thầy còn dành thời gian đến với các đạo tràng trong và ngoài nước. Không chỉ hướng dẫn oai nghi cho Phật tử và chứng minh các đại lễ Phật giáo, Thầy còn tổ chức các buổi chia sẻ Phật pháp nhằm giúp mọi người phát khởi niềm tin Tam bảo, bổ sung những kiến thức, giáo lý căn bản để ứng dụng trong tu học, giúp mọi người hướng đến một đời sống an lạc, hạnh phúc.

Xem thêm: Tiểu sử ca sĩ Gil Lê – Lê Thanh Trúc

Là một trưởng tử Như Lai luôn lấy trí tuệ làm sự nghiệp, ngoài việc tham học, giảng dạy Thầy còn dành nhiều thời hạn để viết, phiên dịch và biên soạn những đầu sách : Tôn Giáo Học So Sánh, Vua Pasenadi, Lược Truyện Đức Phật Thích Ca, Sữa Pháp Ban Mai, Tu Nhà, Phật Pháp Cứu Đời Tôi, Bằng Tất Cả Tấm Lòng, Chuyện Bình Thường, Những Điểm Đặc Sắc Của Phật Giáo, Đời Người, Nhìn Lại, Biết Lỗi Nên Sửa …

2. NHÂN DUYÊN THẦY TRÒHT Thích Chân Tính

Tôi chào đời tại Đắk Lắk năm 1958. Ý thức về cuộc sống mở màn tại Thành Ông Năm, Hóc Môn, Gia Định từ năm 1964 lúc học lớp 5 ( giờ đây là lớp 1 ). Ba tôi là lính Liên Đoàn 30 Công Binh Chiến Đấu, sát bên cạnh chùa Hoằng Pháp. Nhà gần chợ Thành Ông Năm, nhiều lúc ba mẹ đi chùa Hoằng Pháp vào những dịp lễ, tết và tôi cũng diễm phúc được đi theo. Hòa thượng trụ trì chùa Hoằng Pháp có khuyến mãi ngay cho ba mẹ tôi 1 số ít sách do Ngài biên soạn và ấn tống. Năm 1967 ba tôi chuyển về Sóc Trăng theo lệnh của cấp trên. Năm 1969 liên tục chuyển về Long Xuyên. Đi đâu ba mẹ tôi cũng đem theo những kinh sách mà Hòa thượng trụ trì chùa Hoằng Pháp Tặng. Năm 1972 trong lúc nghỉ hè tôi có thời hạn rảnh rỗi nên đã tìm đọc những cuốn kinh sách đó. Có lẽ do căn lành nhiều đời nên khi đọc tôi liền thích và bén duyên với Phật pháp. Tôi mở màn đi chùa tụng kinh, nghe pháp tại chùa Hội Tông gần nhà. Thỉnh thoảng đến tịnh xá Ngọc Giang tại thành phố Long Xuyên dự lễ cúng hội, quý sư có Tặng Ngay những cuốn sách như Tứ Kệ Tĩnh Tâm, Ánh Nhiên Đăng, Giác Huệ Thi Tập, … đọc những sách này như thêm động lực thôi thúc tôi hướng đến con đường xuất gia giải thoát. Nhờ xâm nhập kinh tạng, nên mỗi ngày đạo tâm tăng trưởng, tôi đã xin cha mẹ xuất gia nhưng không được sự đồng ý chấp thuận. Tôi quyết chí trốn nhà đi tu. Lần thứ nhất thất bại. Từ kinh nghiệm tay nghề đó, lần thứ 2 tôi đã thành công xuất sắc và đến ở tu một ngôi chùa tại Chợ Mới, Long Xuyên. Thầy trụ trì chấp thuận đồng ý cho ở tập sự, thế nhưng được vài ngày thì tôi lại chán, vì lúc đó trong tâm tôi thích xuất gia theo hạnh khất sĩ. Tôi xin thầy quay trở lại nhà, sau đó đến xin những sư ở tịnh xá xuất gia nhưng không được đồng ý với nguyên do chưa đủ 18 tuổi. Tôi ở nhà liên tục nuôi chí xuất trần, để tâm vào việc khám phá Phật pháp. Một hôm tôi đọc được cuốn Trên Đường Hành Đạo của Hòa thượng Ngộ Chân Tử, trụ trì chùa Hoằng Pháp. Biết được đời sống và đạo nghiệp của Hòa thượng từ bắc vào nam, bộc lộ một bậc chân tu “ Thượng cầu hạ hóa ”. Tôi rất là kính phục đạo hạnh và việc hoằng pháp lợi sinh của ngài. Tôi nghĩ đây chính là bậc thầy khả kính mà mình hoàn toàn có thể lệ thuộc tu học. Tôi năn nỉ ba mẹ cho về chùa Hoằng Pháp xuất gia và song thân đã chấp thuận đồng ý .Giữa năm 1973 tôi rời nhà ở Long Xuyên về Gia Định đến chùa Hoằng Pháp khởi đầu cuộc sống mới. Hòa thượng trụ trì lúc đó tuy tuổi đã 73 nhưng ngài còn rất khỏe mạnh, trông giống ông tiên, toát lên vẻ đẹp của bậc xuất trần thượng sĩ. Ngài có vầng trán cao, mũi to, khuôn mặt phúc hậu hồng hào, tai dài, đặc biệt quan trọng có chùm lông mọc từ lỗ tai, giọng nói tiếng cười rất có lực, đi đứng rất vững và nhanh. Sau 3 tháng tập sự tôi được thế phát xuất gia. Khi tôi đến chùa đã có một số ít sư huynh xuất gia trước và hơn 10 sư ở làng Cô Nhi Long Thành đến y chỉ với Hòa thượng tu học cũng như phụ giúp nuôi dưỡng những em cô nhi. Ngoài ra còn có 1 số ít chư Ni xuất gia với Hòa thượng và 1 số ít đến phụ thuộc tu học .Sau ngày quốc gia thống nhất ( 30/04/1975 ), một số ít huynh đệ và chư Tăng hoàn tục, 1 số ít đi nơi khác tịnh tu. Đến năm 1977 chùa chỉ còn tôi là đệ tử xuất gia nam duy nhất. Năm 1979 vì nguyên do đặc biệt quan trọng nên tôi phải rời xa Hòa thượng lên thành phố để tu học. Từ đó nhiều lúc tôi về thăm Hòa thượng rồi lại đi, không có thời cơ thân mật chăm nom Hòa thượng lúc tuổi già. Đến năm 1988 Hòa thượng bệnh già và ra đi vào ngày 16/10 Mậu Thìn. Mặc dù 88 tuổi nhưng ngài vẫn khỏe mạnh, khuôn mặt hồng hào, đi lại không phải người dìu, không phải ngồi xe lăn, không nằm liệt giường, không phải phiền người hầu hạ lâu vì ngài chỉ nằm vài ngày rồi ra đi một cách nhẹ nhàng. Thân thể ngài vẫn cường tráng, không đau đớn rên la gì, mắt còn sáng, tai còn thính, trí nhớ còn tốt và rất tỉnh táo cho đến khi trút hơi thở ở đầu cuối. Trong cuộc sống xuất gia của mình, cho đến nay tôi vẫn luôn ray rứt là chưa làm tròn bổn phận của người đệ tử so với thầy. Và tôi nghĩ rằng mình rất có phước khi được xuất gia với một vị chân tu khả kính, cả đời bộc lộ ý thức “ Thượng cầu hạ hóa ” đúng với bản hoài của người xuất gia .Sự xuất hiện của tôi tại chùa Hoằng Pháp nghĩ lại cũng là nhân duyên. Khi nhỏ lần tiên phong tôi đến chùa Hoằng Pháp năm 1964. Chín năm sau ( 1973 ) tôi trở lại chùa Hoằng Pháp xuất gia. Năm 1979 tôi rời chùa lên thành phố tu học. Năm 1981 tôi vượt biên giới ra quốc tế tưởng là không còn thời cơ trở lại chùa Hoằng Pháp, thế nhưng vấn đề không thành. Năm 1988 Hòa thượng viên tịch, không còn huynh đệ nào khác thừa kế, tôi phải về gánh vác trách nhiệm trụ trì chùa Hoằng Pháp cho đến thời nay. Có phải toàn bộ đều là nhân duyên .

Xem thêm:  Trường hợp nào dưới đây được sử dụng quyền tố cáo

……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………..

Xem thêm: Bella là ai? Hot girl Bella’ ăn quỵt’ bây giờ ra sao?

Source: https://muarehon.vn
Category: Tiểu Sử

Thầy Thích Chân Tính bao nhiều tuổi

Posts by Nguyễn Việt Thanh Giang

Thuộc website harveymomstudy.com

Related Posts