Nếu quan niệm về người anh hùng của Nguyễn Đình Chiểu thể hiện qua đoạn trích

Bài làm

Yêu nước vốn là di sản tinh thần của dân tộc qua nhiều thời đại và trở thành một trong hai nội dung lớn xuyên suốt văn học Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử. Các nhà văn nhà thơ có nhiều cách để thể hiện lòng yêu nước của mình. Một trong những cách đó là tái hiện hình ảnh những con người trung tâm của cuộc chiến. Nguyễn Đình Chiểu với Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc đã vẽ bằng ngôn ngữ lại hình ảnh những “trang dẹp loạn” trong thời đại của nhà thơ hay nói đúng hơn là ông đã tạc bức tượng đài bằng thơ về người nghĩa binh nông dân cuối thế kỉ XIX.

Trong thơ văn yêu nước chống Pháp, Nguyễn Đình Chiểu đã thể hiện rất nhiều hình ảnh người anh hùng vì nước, đồng thời qua đó thể hiện quan niệm của mình về người anh hùng. Họ là những sĩ phu như Trương Định vẫn nặng lòng trung quân nhưng vì đại nghĩa của dân tộc đã dám chống lại mệnh lệnh của ông vua hèn yếu, ở lại cùng nhân dân để chiến đấu, bảo vệ giang sơn gấm vóc của ông cha

“Bởi lòng chúng chẳng nghe thiên tử chiếu, đón ngăn mấy dặm mã tiền;

theo bụng dân phải chịu tiếng quân phù, gánh vác một vai khôn ngoại…”

(Văn tế Trương Định – 1864)

Họ là những người như Phan Tòng, trên đầu còn trắng vành tang khăn mẹ, vẫn dẹp tình riêng cầm quân đánh giặc để lại gương sáng nghìn thu:

Cơm áo đền bồi ơn đất nước

Râu mày giữ vẹn phận tôi con

Tinh thần hai chữ phai sương tuyết

Khí phách nghìn thu rõ núi non

(Thơ điếu Phan Tòng – 1868)

Bên cạnh người anh hùng có tên tuổi như Trương Định, Phan Tòng, Nguyễn Đình Chiểu cũng đã xây dựng một tượng đài sừng sững về người nông dân, những anh hùng không tên không tuổi. Viết Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Nguyễn Đình Chiểu có cái nhìn đúng đắn về người anh hùng và quan niệm tích cực về lẽ sống và cái chết. Quan niệm tiến bộ, mới mẻ về người nông dân là những đóng góp nổi bật nhất của Nguyễn Đình Chiểu trong thơ văn yêu nước. Trong lịch sử nói chung, nhất là lịch sử chống xâm lược, nhân dân bao giờ cũng đóng một vai trò to lớn. Từ giai đoạn trước nhất là trong thơ văn Nguyễn Trãi, hình ảnh người dân đã xuất hiện: Nhân dân bốn cõi một nhà, dụng cần trúc ngọn cờ phấp phới (Bình Ngô đại cáo). Nhưng đến những sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu (cuối thế kỉ XIX), hình tượng người nông dân trong văn học mới có sự tương xứng với vai trò lịch sử vốn có. Dưới ngòi bút của Nguyễn Đình Chiểu, lần đầu tiên người nông dân xuất hiện như những người anh hùng với tất cả phẩm chất, cốt cách, tầm vóc tương xứng. “cui cút làm ăn, toan lo nghèo khó”. Lúc đất nước bình yên họ lẫn giữa ruộng vườn, cây trái, lầm lũi nơi kênh rạch, ruộng đồng, bãi đước, bờ tre. Nhưng khi quân giặc đến cướp phá tấc đất ngọn rau, miếng cơm manh áo thì họ đã nhất tề đứng dậy, chiến đấu anh dũng, sẵn sàng đem máu xương để tô thắm lịch sử anh hùng của dân tộc. “Nguyễn Đình Chiểu đã diễn tả thật sinh động và não nùng cảm tình của dân tộc đối với những chiến sĩ của nghĩa quân, vốn là người nông dân xưa chỉ quen cày cuốc, bỗng chốc trở thành người anh hùng cứu nước” (Phạm Văn Đồng). Chỉ một manh áo vải, một cây gây tầm vông, một lưỡi dao phay, một bó rớm con cái, họ đã tự nguyện sung vào đội quân chiến đấu. Cho dù trang bị, kỹ thuật của họ hết sức thô sơ, còn “ võ nghệ nào đợi tập rèn… binh thư không hề bày bố..”. nhưng họ vẫn hiên ngang lẫm liệt: “Chi nhọc quan quản giống trồng kì trống giục, đạp rào lướt tới, liều mình như chẳng có”. Họ chính là những thân phận bị lãng quên nhưng đã đứng lên với trách nhiệm công dân, làm chủ vận nước, lấy tấm thân trần trụi chống chọi với sắt thép, quân thù. Ý thức tự giác, tinh thần vượt lên trên sức mạnh vốn có của người nông dân hộ đã đem ra để chống giặc giữ nước.

Trong tác phẩm này, quan niệm về người anh hùng của Nguyễn Đình Chiểu rất tiến bộ. Người anh hùng không chỉ là những sĩ phu, những con người kiệt xuất, có tên tuổi cụ thể mà theo ông người nông dân cũng trở thành anh hùng, thành tập thể anh hùng. Nguyễn Đình Chiểu đã đánh giá đúng vai trò của người nông dân, họ là thành phần cốt lõi trong cuộc chiến đấu đương thời khi mà vua quan nhà Nguyễn can tâm đầu hàng giặc. Vai trò ấy càng nổi bật hơn khi nó vừa kế thừa, phát huy truyền thống quật cường của dân tộc, lại có sự kết hợp và phát huy cái ngang tàng, hào hiệp của tính cách con người Nam Bộ. Nguyễn Đình Chiểu đã đặt niềm tin vào các nghĩa quân. Và ông tin họ xứng đáng là những anh hùng. Chính họ đã làm rạng ngời một lẽ sống cao đẹp của thời đại:

“Sống làm chi theo quan tà đạo, quăng vùa hươu, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn;

Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.

Thà thác mà đặng câu định khải, về theo tổ phụ cũng vinh;

hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ”.

Và cái chết của người anh hùng vì nước là cái chết bất tử. Cái chết ấy có tác dụng bồi vào sự sống, nhân lên sức mạnh của sự sống:

“Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh,

muôn kiếp nguyện được trả thù kia…”

Viết Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Nguyễn Đình Chiểu không chỉ để khóc những người đã bỏ mình vì nước mà còn có cái nhìn đúng đắn về người anh hùng. Sáng tác của Đồ Chiểu đã gợi lên cảm khái hào hùng trong niềm xót thương vô hạn của người đọc. Với Nguyễn Đình Chiểu, những con người bình dị, gần gũi, không tên tuổi cũng có thể trở thành anh hùng khi họ nặng tình với đất nước, dân tộc và sẵn sàng xả thân vì đất nước.

Có thể nói Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, là đỉnh điểm tư tưởng nghệ thuật trong văn nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu. Trong kho tàng văn tế Việt Nam xưa, nó xứng đáng được “trao giải nhất chi nhường cho ai?”. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong bài Nguyễn Đình Chiểu – Ngôi sao sáng trong văn học của dân tộc từng đặt bài văn tế này ngang hàng Đại cáo Bình Ngô của Nguyễn Trãi và cho rằng: là bài ca về người anh hùng thất thế nhưng mãi vẫn hiên ngang trước lịch sử.

LỜI CẢM ƠNLời nói đầu, em xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô Khoa Ngữ Văn – TrườngĐại học Thủ Dầu Một, cùng với tri thức và tâm huyết của mình đã truyền đạt vốn kiếnthức quý báu cho chúng em trong suốt thời gian học vừa qua.Và đặc biệt trong kì họcnày, Khoa đã tổ chức cho chúng em được tiếp cận với môn học mà theo em là rất hữuích đối với sinh viên chúng em .Đó là môn học “Nguyễn Đình Chiểu và tác phẩm”.Em xin chân thành cảm ơn giảng viên Lê Thị Kim Út đã tận tâm hướng dẫnchúng em qua từng buổi học trên lớp và những lần thảo luận về bài học, đề tài cũngnhư về cách viết một đề tài báo cáo. Nếu không có sự hướng dẫn, góp ý về hướngnghiên cứu thì em nghĩ bài tiểu luận của em sẽ khó hoàn thiện . Nhờ sự tận tâm của côvà những kiên thức bổ ích em đã hoàn thành xong bài tiểu luận báo cáo này.Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn cô!Sau cùng em xin kính chúc quý thầy cô trong khoa Ngữ Văn và giảng viên Lê ThịKim Út thật dồi dào sức khoẻ và luôn vững niềm tin để tiếp tục thực hiện sứ mệnh caođẹp của mình, truyền đạt kiến thức cho thế hệ mai sau.Trân trọng!Bình Dương, ngày 28 tháng 12 năm 2018Sinh viên thực hiệnTrần Thị HiềnA.1. Lý do chọn đề tàiPHẦN MỜ ĐẦUNguyễn Đình Chiểu là một trong những tác giả lớn của nền văn học trung đạiViệt Nam, một tấm gương đạo đức cao cả trong quan hệ đời sống hằng ngày cũng nhưtrong quan hệ với dân với nước. Nói đến ông là nói đến một cây bút có sự thống nhấtchặt chẽ giữa nói và làm, giữa văn và người, giữa sống và viết. Nói đến thơ văn ông lànói đến sự quyết liệt giữa thiện và ác trong sự ca thán và thương xót, trong giữa đạonghĩa cuộc đời . Nguyễn Đình Chiểu được xem như là lá cờ đầu của văn thơ yêu nướcchống Pháp cuối thế kỷ XIX, một cây bút Nam bộ tiêu biểu và một sự nghiệp thơ vănchở đạo cứu đời, một thứ văn trữ tình đạo đức có ảnh hưởng to lớn đối với đời sốngtinh thần dân tộc, đặc biệt là nhân dân Nam bộ.Như cố thủ tướng Phạm Văn Đồng nói“Đời sống và sự nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu là một tấm gương sáng, nêu cao địavị và tác dụng văn học, nghệ thuật, nêu cao sức mạnh của người chiến sĩ trên mặt trậnvăn hóa và tư tưởng”[19;176]. Vì vậy, nghiên cứu các vấn đề nghệ thuật hay các quanniệm trong các bài văn tế, thơ điếu của Nguyễn Đình Chiểu, đặc biệt là quan niệm vềngười anh hùng trong thơ điếu sẽ giúp ích rất nhiều cho chúng ta trong nghiên cứu vănhọc nói chung và thơ văn Nguyễn Đình Chiểu nói riêng.Vì những lẽ đó, khi người viết được giao và tiếp cận đề tài “quan niệm về ngườianh hùng trong thơ điếu của Nguyễn Đình Chiểu” để tìm hiểu, với hy vọng kết quảnghiên cứu sẽ giúpchúng ta nhìn nhận một cách toàn diện hơn, đầy đủ hơn về quan niêm người anh hùngnói riêng qua những biểu đạt tinh tế từ trong nội dung cho đến nghệ thuật của một tácgia lớn của thời kỳ cuối thế kỉ XIX.2. Lịch sử vấn đềĐã có rất nhiều nhà nghiên cứu đã dốc nhiều công sức khám phá các giá trị từ cáctác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu. Từ phạm vi hẹp đến phạm vi rộng lớn. Từ cuộc đờivà sự nghiệp của nhà văn, tư tưởng nghệ thuật, ý nghĩa triết lý, ảnh hưởng của cá nhânnhà văn đối với văn hóa dân tộc, những quan niệm về tri thức y học hay những giá trịvề nội dung và nghệ thuật của các tác phẩm… Các bài báo, các tập sách về NguyễnĐình Chiểu đã lên đến hàng trăm và chắc hẳn còn tiếp tục được nối dài thêm nữa quathời gian. Cụ thể có một số bài viết của các nhà nghiên cứu như: Nguyễn Đình Chiểu,ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc (Phạm Văn Đồng), Nguyễn Đình Chiểu,một nhà thơ lớn, một tấm gương chói ngời tinh thần bất khuất của dân tộc Việt Nam(Hoài Thanh), Đồ Chiểu với sự chuyển mình của văn hóa dân tộc (Cao Huy Đỉnh),…Riêng về các bài văn tế và thơ điếu cũng đã có một số lượng khá lớn các bài viếtnghiên cứu như: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc qua ý thơ của Miên Thẩm và Mai Am (ĐỗVăn Hỷ), Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc một trong những bài văn hay nhất của chúng ta(Hoài Thanh), … Các bài viết trên chủ yếu tập trung vào việc tìm hiểu, phân tích nộidung của các bài văn tế, thơ điếu. Tiếp nối về nội dung đấy cùng với yêu cầu phải tiếpcận về hình tượng người anh hùng của Nguyễn Đình Chiểu trong thơ điếu nói riêng,người viết mong sẽ góp phần nào đó để làm sáng rõ về quan niệm của ông đã đónggóp đáng kể trong xây dựng hình tượng văn học cũng như về đạo lý đời sống. Đồngthời người viết sẽ dựa vào những lời bình, những bài viết có liên quan về cuộc đời, tácphẩm của nhà thơ để làm tư liệu cho đề tài thêm phong phú. Việc tìm hiểu sâu về thơ.2văn và đặc biệt là các tác phẩm thơ điếu sẽ giúp ích rất nhiều cho người viết trong việclàm rõ hình tượng người anh hùng trong thơ điếu của Nguyễn Đình Chiểu.3. Mục đích nghiên cứu. Dựa vào các cơ sở lí luận để hiểu một cách khái quát về các khái niệm, giới thiệuvài nét chính về đặc điểm thơ điếu của nền văn học trung đại Việt Nam nói chung vàcủa Nguyễn Đình Chiểu nói riêng. Phần nội dung người viết sẽ khảo sát ngôn từ cũngnhư nội dung trong thơ điếu góp phần làm nổi bật hình tượng nhân vật anh hùng.Thông qua đó, chúng ta sẽ thấy được tư tưởng của nhà thơ, nội dung phản ánh trongbối cảnh thời đại. Nổi bật hơn hết là tấm lòng tôn vinh, ngợi ca đầy thương xót vớinhững nghĩa sĩ đã vì chính nghĩa mà thiệt thân thông qua ngòi bút của cụ Đồ.Đây cũng là một trong những đề tài người viết được tiếp cận và thử sức mình khicòn trên ghế nhà trường. Cùng với sự mong muốn được tìm hiểu và nghiên cứu sâuhơn về nội dung cũng như nghệ thuật trong các tác phẩm thơ điếu của Nguyễn ĐìnhChiểu. Từ đó cũng tạo được một nền tảng nhất định cho chính bài viết của mình và xahơn là những đề tài nghiên cứu mở rộng trong tương lai.4. Phạm vi nghiên cứuTrong khuôn khổ của đề tài, người viết sẽ tập trung khảo sát các bài thơ điếu củaNguyễn Đình Chiểu để tìm hiểu về hình ảnh của các anh hùng. Từ đó thông nhất quanniệm của tác giả, đưa ra nhận định của bản thân mình với mong muốn sẽ đi sâu và làmrõ đề tài hơn.Tài liệu được dẫn liên quan đến thơ điếu Nguyễn Đình Chiểu, dựa vào quyểnNguyễn Đình Chiểu toàn tập (tập 2). Trong quá trình thực hiện bài viết, người viết cósử dụng một số tài liệu khác có liên quan đến đề tài: quyển từ ngữ thơ văn NguyễnĐình Chiểu (thơ và văn tế), Nguyễn Đình Chiểu tác phẩm và lời bình , Đến với thơNguyễn Đình Chiểu,…5. Phương pháp nghiên cứuNhững phương pháp nghiên cứu được sử dụng chủ yếu trong tiểu luận là dựa vàocơ sở lí luận để xác định hình tượng nhân vật cũng như về nghệ thuật miêu tả nhânvật. Trong đó, người viết còn chú ý đến những công trình có đề cập đến nội dung trongthơ điếu của Nguyễn Đình Chiểu như: tìm hiểu Nguyễn Đình Chiểu trong điếu phanthanh giản của Trần Khuê, Điếu Trương Công Định (Hà Như Chi),..Nhìn chung, cơ sở lí luận văn học là tiền đề quan trọng đầu tiên làm nền tảng líthuyết cho việc triển khai đề tài. Trên cơ sở những tài liệu đó, người viết sẽ sử dụngphương pháp tổng hợp, phân tích. Trong quá trình thực hiện đề tài người viết có kếthợp thao tác giải thích, chứng minh và phân tích. Đây cũng là phương pháp chínhtrong quá trình thực hiện nhằm làm nổi bật vấn đề. Bên cạnh đó, người viết cũng cóliên hệ với một số ý kiến cụ thể của các tác giả và trích dẫn một số dẫn chứng cụ thể từtác phẩm và các sách tham khảo để bài viết có cơ sở vững chắc hơn.B.PHẦN NỘI DUNG CHÍNHChương I. Khái quát về thơ điếu trong nền văn học Việt Nam1.1.Vài nét về thơ điếu của văn học trung đại Việt Nam3Năm 1858, thực dân Pháp xâm lăng và thực hiện cuộc bình định trên đất nước ta.Tình thế thật trớ trêu khi bên ngoài thì ngoại bang xâm lăng, bên trong thì triều đìnhphong kiến đã thất bại thảm hại khiến đời sống nhân dân trở nên đen tối, toàn bộ cuộcsống xã hội dần chìm vào sự đau khổ, rối ren. Cuộc sống xã hội bị thay đổi cũng dẫnđến văn học có nhiều sự phân hóa, hình thành và xuất hiện các khuynh hướng tư tưởngkhác nhau ở thời kì này: văn học phê phán, văn học nhàn tản, thoát ly, văn học yêunước…nổi bật hơn cả trong giai đoạn chống Pháp và lên án triều đình phong kiến là bộphận văn học yêu nước mang tư tưởng nho giáo chính thống, đề cao chủ nghĩa anhhùng trong cuộc chiến đấu. Điều này đã đem lại cho văn học một luồng sinh khí mới.Văn học của giai đoạn này đã có những thành công nhất định trong cả về đề tài sángtác, nghệ thuật sáng tác,…bên cạnh đó, thể loại sáng tác cũng rất phong phú và cónhiều thành tựu: Truyện thơ Nôm, Tuồng, Thơ Nôm trữ tình và trào phúng, văn tế, thơđiếu. Về thể loại thơ điếu thường có nét tương đồng của văn tế. Trần Đình Sửtrong Mấy vấn đề Thi pháp văn học trung đại Việt Nam, cho rằng: Văn tế thời xưadùng để tế trời đất núi sông, còn gọi là kỳ văn hay chúc văn. Về sau văn tế dùng để tếngười chết. Là một thể loại tổng hợp bày tỏ niềm tiếc thương đối với người mất màkhông phân biệt trên dưới xa gần, thân hữu. Nó kiêm cả lỗi, điếu, ai tế. Ai từ: là văn aiđiếu người chết. Điếu văn: là văn viếng người đã chết. Liên quan đến khái niệm điếuvăn, Trần Đình Sử cho rằng: Điếu văn để viếng người đã chết, cũng gọi là “điếu từ”,”điếu thư”, nếu làm thơ thì gọi là “điếu thi”. Điếu là đến (chí), nói thần linh đến.Khách đến an ủi chủ (người dã mất), lấy lời để tỏ ra mình đã đến, cho nên nói là lờiđiếu. Điếu Khuất Nguyên của Giả Nghị là tác phẩm đầu tiên của loại này, sau có Điếuchiến trường, Điếu bác chung (chuông lớn).1.2. Vài nét về thơ điếu của Nguyễn Đình ChiểuNguyễn Đình Chiểu đã học tập và kế thừa tinh thần chống ngoại xâm, tinh thầnkháng chiến anh dũng của văn chương Việt Nam từ trước đó, như thơ của Lý ThườngKiệt, phú của Trương Hán Siêu, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi,… Lòng yêu nướcnồng nàn, lòng tự hào về một nước Nam đẹp đẽ, một bề dày lịch sử lâu đời. Khi đứngtrước cảnh bi thương của dân tộc, một tâm hồn nặng nghĩa tình nước non ấy không thểnào yên lòng, vững chân mà đứng nhìn, mặc dầu sống trong cảnh tối tăm, nhưng đồChiểu luôn lắng nghe vạn vật bằng trái tim mình, bằng sự công tâm và khẳng khái. Đólà “Lục Vân Tiên”, đó là “Ngư Tiều vấn đáp”, đến những bài văn tế, thơ điếu đầy lâmly, thống thiết, nhưng rất hùng dũng, ông đã nói lên tiếng nói của mình trước thờicuộc. Đối với văn tế, Nguyễn Đình Chiểu sáng tác khá nhiều và phong phú từ nộidung đến nghệ thuật. Bên cạnh văn tế thì thơ điếu của Nguyễn Đình Chiểu cũng cónhiều nét riêng, mặc dù tần suất sáng tác không nhiều bằng thể loại văn tế. Các bài thơđiếu của ông để viếng người chết, là sự xót thương của nhà thơ đối với các nhân vậtlịch sử như Phan Tòng, Phan Thanh Giản, Trương Định. Thông thường các bài thơđiếu được viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật.Điếu Trương Định ra đời vào năm 1864, trong hoàn cảnh khi Pháp Việt giaobinh. Trương Định bị giết tại trận. Với Trương Định , cụ Đồ Chiểu đã có thâm tình rấttốt và khi Trương tướng quân chết, Nguyễn Đình Chiểu viết bài văn tế lâm ly, não4nùng. Điếu Phan Thanh Giản được viết vào năm 1867, khi giặc Pháp vây tỉnh VĩnhLong bắt buộc Phan Thanh Giản phải hàng. Vì quân số rất ít nếu tiếp tục chiến đấu vớiPháp chỉ gây thêm cảnh chết chóc cho dân lành, ông truyền mở cửa thành cho Phápvào, nhịn đói 10 ngày rồi uống độc dược chết. Thương tiếc vị lão thần đã “vị quốcvong thân”, Nguyễn Đình Chiểu đã làm 2 bài thơ điếu. Điếu Phan Tòng, hoàn cảnh rađời của 10 bài thơ này chưa được xác định một cách rõ ràng và hiện cũng có rất nhiềuý kiến về vấn đề này. Về năm tháng Phan Tòng tử trận, có sách ghi là năm 1867, cósách ghi 1868.Nhìn chung, hầu hết các bài thơ điếu của Nguyễn Đình Chiểu có sự đónggóp đáng kể cho nền văn học trung đại Việt Nam về cả hai mặt nội dung và nghệ thuật.Về nội dung, các bài thơ điếu ra đời hầu như đã phản ánh lên một cách chân thật nhấtvề hoàn cảnh đất nước ta khi bị thực dân Pháp xâm lược, phác họa hình ảnh các vịlãnh binh rất rõ nét và đầy cảm động với một tấm lòng yêu nước, thương dân vô cùngthống thiết của tác giả. Riêng về hình thức nghệ thuật, tác giả đã thể hiện bố cục củamột bài thơ điếu như hình thức của văn học trung đại, bên cạnh đó tác giả cũng có sựđổi mới trong cách viết và đã góp phần tạo nên sự đa dạng, phong phú ở thể loại này.Chương II. Vài nét về hình tượng người anh hùng trong thơđiếu2.1. Người anh hùng đánh giặcNguyễn Đình Chiểu là một nhà thơ, nhà văn giàu lòng yêu nước. Khi Pháp sangxâm lược, ông đã dồn nén sự căm thù giặc, sự phẫn nộ về triều đình phong kiến, đồngthời nung nấu tinh thần yêu nước sâu sắc dưới ngòi bút “đâm gian, chở đạo” của mình.Theo sát kịp cuộc chiến tranh ác liệt giữa Việt- Pháp ông đã thể hiện rõ quan niệm vềngười anh hùng của minh, ông vạch mặt kẻ thù đó là “đâm gian”, còn “chở đạo” theoông lúc này là ngợi ca những anh hùng cứu nước, thất thế nhưng vẫn hiên ngang, đồngthời ngợi ca cuộc kháng chiến của nhân dân ta. Nguyễn Đình Chiểu thể hiện nhiềuhình ảnh về người anh hùng vị nghĩa quên thân.Họ là những sĩ phu như Trương Định vẫn nặng lòng trung quân nhưng vì đạinghĩa của dân tộc đã dám chống lại mệnh lệnh của vua tôi hèn yếu, ở lại cùng nhândân để chiến đấu, bảo vệ giang sơn gấm vóc của ông cha:“Trong Nam tên họ nổi như cồnMấy trận Gò-công nức tiếng đồn.Dấu đạn hỡi rêm tàu bạch-quỉHơi gươm thêm rạng thể hoàng-môn”Họ là những người như Phan Tòng, trên đầu còn trắng vành khăn tang mẹ, vẫnđẹp tình riêng cầm quân đánh giặc để lại gương sáng nghìn thu:Cơm áo đến bồi ơn đất nướcRâu mày giữ vẹn phận tôi conTinh thần hai chữ phai sương tuyếtKhí phách nghìn thu rõ núi non(Thơ điếu Phan Tòng – 1868)5Hay một Phan Thanh Giản với một đạo đức, một công lao không thể chối từ mặcdù những sai lầm đã tiếp nối sau đó, nhưng một vị sĩ phu yêu nước như thế, NguyễnĐình Chiểu với tấm lòng tán thưởng và cảm phục của mình đã viết lên với sự chânthành:Lịch sĩ tam triều độc khiết thânPhi công thùy tản nhất phương dân( Điếu Phan Thanh Giản)Qua đó cho thấy, thơ điếu của Nguyễn Đình Chiểu là viết về những sĩ phu yêunước, những con người kiệt xuất, có tên có tuổi cụ thể. Ông đánh giá và cảm phụcnhững vị sĩ phu này, đứng đầu và cầm quân khởi nghĩa. Những người sĩ phu yêu nước,học tập cha ông ta từ xưa về việc giữ nước, hy sinh thân mình để nhân dân được bìnhyên. Điều này thể hiện sự kế thừa, phát huy truyền thống quật cường của dân tộc.Những con người có đức và có tài này đã tạo một niềm tin vững chắc cho nhà thơ,cũng như ông đã đặt niềm tin vào các nghĩa quân dưới sự quật khởi của những sĩ phuyêu nước tài ba. Và họ xứng đáng là những vị anh hùng trong lòng ông, họ làm rạngngời lối sống cao đẹp của những người trượng nghĩa nói riêng và của một thời đại nóichung.2.2. Vai trò của người anh hùng đánh giặcNgòi bút của Nguyễn Đình Chiểu thể hiện rất rõ lý tưởng cũng như quan điểmcủa mình. Như đã nói, ông đề cao, ngợi ca chủ nghĩa anh hùng cho nên ta thường bắtgặp trong thơ ông lại vang lên những lời ngợi ca, kêu gọi hành động anh hùng khi đấtnước đắm chìm giữa khói lửa chiến tranh.Một trận trải gan trời đất thấy,So xưa nào thẹn tiếng anh hùng.(Thơ điếu Phan Tòng, I)HayMũi giáo Thi Toàn đừng để sét,Lưỡi gươm Dự Nhượng phải toan giồi.(Thơ điếu Trương Định, XII)Sau những lời kêu gọi là một loạt hình ảnh cụ thể về người, về việc mà ông đưara. Điều này đồng thời cho thấy vị trí cũng như vai trò của người anh hùng trong thờiđiểm này là rất quan trọng. Một thời thế loạn lạc, bom rơi đạn lạc rất cần những ngườiđứng lên vì nghĩa, biết hướng đến “đạo” tốt đẹp mà đi. Đó hẳn phải là một khởi nghĩaTrương Định là cuộc đấu tranh tiêu biểu nhất, có ảnh hưởng và ý nghĩa to lớn tronggiai đoạn đầu của phong trào chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta. Trướchết, Nguyễn Đình Chiểu đã đề cập đến vai trò của Trương Định lúc bấy giờ, tiếng tămcủa Trương Định có rất nhiều người biết đến:“ Trong Nam tên nổi như cồn”Ông là người lãnh đạo nghĩa quân ở nhiều nơi để chống thực dân Pháp và phongtrào hưởng ứng nghĩa quân của ông lên rất cao. Trương Định là người có vai trò lớntrong chống Pháp với những trận đánh lớn:“Mấy trận Gò Công nức tiếng đồn”6Với sự dẫn dắt của Trương Định các nghĩa quân đã chiến thắng oanh liệt và tạođược lòng tin trong dân chúng rất lớn.Hay vai trò của Phan Thanh Giản trong hai câu thơ đầu với lời chân thành mến phụccủa tác giả:“Làm quan trải ba triều vua, ông vẫn riêng mình giữ được tấm thân trong sạch.Không có ông thì ai là người che chở cho cả một phương dân chúng.”Cụ nổi tiếng thanh liêm, đạo đức, có nhiều đóng góp lớn đối với lịch sử dân tộctrên các lĩnh vực văn học, sử học… vai trò của cụ Phan Thanh Giản là vô cùng quantrọng trong một thời cuộc đầy rối ren ấy. Lòng dân tin tưởng một con người thanh liêmcó đạo đức, chờ đợi bởi những con người sĩ phu ấy sẽ mang lại một cuộc sống bìnhyên, để mắt nhòm ngó những dân đen đang ngày một than khóc “bỏ nhà lũ trẻ lơ xơchạy/ mất ổ đàn chim dáo dát bay”. Những vị sĩ phu yêu nước này đều có tiếng tămrất uy tín với nhân dân, vì lẽ ấy là gắn kết rất nhiều nghĩa sĩ ở mọi tầng lớp đứng lênđấu tranh, khởi nghĩa. Là những người đứng đầu bất khuất, kiên trung không sợ “lạcmất thân này”, sẵn sàng là ngọn cờ đầu trước sự mất mát để thúc đẩy tinh thần “vịnghĩa quên thân” của nghĩa sĩ:“ Anh hùng thà thác chẳng đầu Tây”(Điếu Phan Tòng)Thà chiến đấu giành lại non sông mà hy sinh, còn hơn sống trong sự cai trị,chiếm lĩnh tàn ác của bọn giặc ngoại bang. Chết đi mang danh anh hùng còn hơn sốngtrong sự khổ nhục mang danh nhơ. Chúng ta thấy rằng, Nguyễn Đình Chiểu đã ca ngợinhững chiến công của các lãnh quân, đồng thời ca ngợi vị trí, vai trò của họ kể cả khinằm xuống rồi để thúc đẩy chí khí của những nghĩa sĩ còn lại, vẫn cháy ngọn lửa anhhùng ấy.2.3. Khí tiết của người anh hùng và lòng tiếc thương vô hạn.Sự bất khuất của các sĩ phu đã được cụ Chiểu đưa ra hàng loạt những từ ngữ,hình ảnh để thấy được văn thơ ấy đã rất sát với thực tế như thế nào. Với Trương Định,khi trong vòng vây của địch, người sĩ phu yêu nước này đã anh dũng điểm mặt kẻ thùvà rút gươm tự sát, một sự tử tiết đầy chất anh hùng. Đó là khi đã làm trọn sức mìnhvới non sông, nhưng không may ta thua thế bởi tay giặc, ta thà chết chứ không để giặcác mua chuộc. Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu nói lên tình cảm đau xót tiếc thương vôhạn của nghĩa quân và của nhân dân thời ấy, qua khổ thơ đầy cảm động:Dấu đạn bay rêm tàu bạch quỷ,Hơi gươm thêm rạng thể hoàng môn.Ngọn cờ ứng nghĩa trời chưa bẻ,Cái ấn Bình Tây đất vội chôn.Nỡ khiến anh hùng rơi giọt lụy,Lâm tâm ba chữ điếu linh hồn.(Điếu Trương Định bài I)Khổ thơ nhấn mạnh sự vang danh của Trương Định như một sự chói lòa cùng vớinỗi tiếc thương, tình cảm xót xa khi Trương Định mất. Thể hiện sự trân trọng vớinhững tấm gương trượng nghĩa, sống vì đạo nghĩa ở đời:Gò Công binh giáp ngó chàng ràng.7Đoái Bắc trông Nam luống thở than.Trên trại đồn điền hoa khóc chủ,Dưới vàm Bao Ngược sóng kêu quan.Mây giăng Truông Cốc đường quân vắng,Trăng xế Gò Rùa tiếng đẩu tan.Mấy dặm non sông đều xững vững,Nạn dân ách nước để ai toan?(Điếu Trương Định bài VII)Nguyễn Đình Chiểu còn sâu sắc khi đã nhìn thấy và chỉ ra cho mọi người dân sựbất hạnh của nước nhà cũng là bất hạnh của chính bản thân. Đã là con dân của đấtnước thì không thể khoanh tay đứng nhìn, chí khí anh hùng vì nước non thì phải:“Cơm áo đền bồi ơn đất nướcRâu mày giữ vẹn đạo tôi con”(Điếu Phan Tòng)Đồ Chiểu ngoài lòng thương tiếc vô hạn người anh hùng đã mất, ông còn lêntiếng tố cáo, oán trách triều đình Huế rất sâu sắc đối với việc chúng cắt đất cầu hòa,thù oán những người yêu nước. Đồng thời cho thấy khí tiết kiên cường của vị anhhùng, thà thác chứ không chịu làm tay sai, không chịu bán nước:Anh hùng thà thác chẳng đầu TâyMột giấc sa trường phận cũng may.Viên đạn nghịch thần treo trước mắt,Lưỡi gươm địch khái nắm trong tay.Đầu tang ba tháng trời riêng đội,Lòng giận nghìn thu đất nổi dày.Tiếc mới một sồng ra đặt trụm.Cài xên, con rã, nghĩ thương thay(Điếu Phan Tòng, bài 02)Nỗi tiếc thương vô bờ đối với những người trượng nghĩa, khóc thương biết khinào mới nguôi ngoai nỗi đau. Lòng càng thêm hận cái lũ cướp nước ngoại bang, lũngười nhu nhược của triều đình khiến dân chúng khóc than, khiến bao nhiêu vị anhhùng tài ba phải bỏ mạng. Cụ đồ Chiểu thể hiện sự xót thương thật buồn thảm, từ quêhương, cảnh vật, con người cùng khóc thương, tiếc cho những người trượng nghĩa vìbọn giặc xâm lăng mà phải chết, phải ngã mình để mầm non có cơ hội chồi dậy:Ba Tri từ vắng tiếng hơi chàng,Gió thảm mưa sầu khá xiết than.Vường luống trông xuân hoa ủ dột,Ruộng riêng buồn chủ lúa khô khan.Bầy ma bất hạnh duồng làm nghiệt,Lũ chó vô cô cũng mắc nàn.Người ấy vì ai ra cớ ấy,Chạnh lòng trăm họ khóc quan Phan.(Điếu Phan Tòng, bài 06)8Vì những sai lầm, nhu nhược của triều đình nhà Nguyễn, vì sự cùng khổ của nhân dânlầm than mà các vị sĩ phu yêu nước phải bỏ mình nơi trận mạc. Khiến một vùng đấtphương Nam nói riêng và cả nước Việt nói chung phải khóc than, đau xót trong lòngmột thời gian dài.2.4. Vài nét nghệ thuậtTrong các bài thơ điếu của mình, cụ Đồ xứ Ba Tri cũng ngân nga nhạc điệu. Cókhi nhạc vang ra từ sự láy lại theo điệu thơ thập thủ liên hoàn:Trạnh lòng trăm họ khóc quan PhanQuan Phan thác trọn chữ trung thần.(Thơ điếu Phan Tòng)Nhạc điệu đắp đổi âm thanh xoắn xuýt từ phép đối:Vì nước tấm thân đã gởi, còn mất cũng cam,Giúp đời cái nghĩa đáng làm, nên hư nào ngại.(Điếu Trương Định)Nhạc điệu thơ Nguyễn Đình Chiểu có một số câu phân bố các dấu huyền tạo nênmột tâm tình ngẫm nghĩ.- Thương ôi! Người ngọc ở Bình Đông(Thơ điếu Phan Tòng)Ngoài việc sử dụng nhạc điệu linh hoạt thì Nguyễn Đình Chiểu rất giỏi trong việcthể hiện giọng điệu trong thơ, có khi là một giọng văn truyền cảm ,có sức động viênthuyết phục, tuyên truyền đối với mọi người, kích thích lòng yêu nước, yêu quêhương, yêu đồng bào. Nếu có lòng tin và sống trong một tinh thần trọng nghĩa thì vẫncó thể giết được giặt cho dù chúng có vũ khí hiện đại đến cỡ nào:“biết đạo khác bầy con mắt tụcDạy dân nắm giữ tấm lòng côngĐặng danh vừa rạng bề nhà cửaVì nghĩa riêng đền nợ núi sông”(Thơ Điếu Phan Tòng)Hay Nguyễn Đình Chiểu ca ngợi họ với một thái độ chân thành và giọng điệutrang trọng, cảm phục:“Giúp đời dốc trọn ơn nam tử,Ngay chúa nào lo tiếng nghịch thần”( Thơ điếu Trương Định)Hay“ Viên đạn nghịch thần treo trước mắt,Lưỡi gươm địch khái nắm trong tay”(Thơ điếu Phan Tòng)Kết LuậnNhư các nhà nghiên cứu đã nhận định Nguyễn Đình Chiểu là ngọn cờ đầu trongcông cuộc chống Pháp ở cuối thế kỉ XIX. Ông đã để lại một sự nghiệp lớn cho thế hệ9mai sau với nhiều thể loại phong phú từ truyện thơ Nôm, thơ ca, văn điếu…góp phầnvào nền văn học trung đại một sự đặc sắc riêng biệt từ sự kế thừa và phát huy. NguyễnĐình Chiểu là một con người trượng nghĩa, sống luôn theo lý tưởng riêng, đạo nghĩalàm đầu. Đó cũng chính là những quan điểm mà ông thể hiện trong thơ ca của mình,ca ngợi những chiến công, ca ngợi những việc trượng nghĩa, những người anh hùngnghĩa hiệp. Đồng thời cũng lên án, tố cáo những điều trái với luân thường, lẽ phải. Sẵnsàng phản vua nếu như đó là một vị quan hèn nhát, sa đọa, không lo nghĩ cho con dâncủa mình. Đó là một Nguyễn Đình Chiểu đau nỗi đau của nhân dân, khóc than cho sốphận bần cùng, khóc thương cho những nghĩa sĩ hy sinh trong trận mạc. Nhà thơNguyễn Đình Chiểu đúng như nhận xét của cố thủ tướng Phạm Văn Đồng : NguyễnĐình Chiểu – ngôi sao sáng trên bầu trời văn nghệ của dân tộc. Thơ văn NguyễnĐình Chiểu là thơ văn chiến đấu, đánh thẳng vào kẻ thù và tôi tớ của chúng.Thơ vănNguyễn Đình Chiểu làm sống lại trong tâm trí chúng ta phong trào kháng Pháp oanhliệt và bền bỉ của nhân dân Nam Bộ. Ca ngợi những người anh hùng suốt đời tận tuỵvới nước, than khóc những người liệt sĩ đã trọn nghĩa với dân.Thơ điếu của Nguyễn Đình Chiểu ca ngợi những sĩ phu yêu nước, có tên tuổi, vịtrí cụ thể, qua hình ảnh của Trương Định, Phan Tòng,… Nguyễn Đình Chiểu đã đónggóp vào việc xây dựng hình tượng những người sĩ phu yêu nước, những con người ưutú tiêu biểu của thời đại bấy giờ. Điều này cho thấy, những người anh hùng yêu nướctrong thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu không nhất thiết là xuất thân tầng lớp cao quý,tầng lớp trên của xã hội mà chỉ cần là người có lòng thương xót và sống trong đạonghĩa đều đứng lên quật cường đầy hiên ngang.Nhìn chung, hầu hết các bài thơ điếu của Nguyễn Đình Chiểu có sự đónggóp đáng kể cho nền văn học trung đại Việt Nam về cả hai mặt nội dung và nghệ thuật.Về nội dung, các bài thơ điếu ra đời hầu như đã phản ánh lên một cách chân thật nhấtvề hoàn cảnh đất nước ta khi bị thực dân Pháp xâm lược, phác họa hình ảnh các vịlãnh binh rất rõ nét và đầy cảm động với một tấm lòng yêu nước, thương dân vô cùngthống thiết của tác giả. Riêng về hình thức nghệ thuật, tác giả đã thể hiện bố cục củamột bài thơ điếu như hình thức của văn học trung đại, bên cạnh đó tác giả cũng có sựđổi mới trong cách viết và đã góp phần tạo nên sự đa dạng, phong phú ở thể loại này.TÀI LIỆU THAM KHẢO1. Thái Bạch, Nguyễn Đình Chiểu thân thế, sự nghiệp và tác phẩm, NXB ThanhHóa, 20042. Nguyễn Đặng Điệp, Giọng điệu thơ trữ tình, NXB Văn học, 2002103. Đoàn Lê Giang, Nguyễn Đình Chiểu ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc,NXB Trẻ- Hội nghiên cứu & giảng dạy văn học TPHCM, 20014. Nguyễn Thạch Giang, Từ ngữ – thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, NXB TPHCM,20005. Lê Bá Hán – Trần Đình Sử – Nguyễn Khắc Phi, Từ điển thuật ngữ văn học,NXB Giáo dục, 20076. Vũ Khiêu – Nguyễn Đức Sự, Nguyễn Đình Chiểu ngôi sao sáng của người trithức Việt Nam, NXB Khoa học xã hội- Hà Nội, 19827. Trần Đình Sử, Thi pháp thơ Tố Hữu, NXB Giáo dục, 19958. Lê Ngọc TRà, Lí Luận và văn học, NXB Trẻ, 19909. Tác giả trong nhà trường Nguyễn Đình Chiểu, NXB văn học, 200610.Nguyễn Đình Chiểu, Lục Vân Tiên, NXB Thanh niên, 2002MỤC LỤCLời cảm ơn………………………………………………………………………………………………1A. Phần mở đầu……………………………………………………………………………………….21. Lí do chọn đề tài …………………………………………………………………………….2112. Lịch sử vấn đề ……………………………………………………………………………….23. Mục đích nghiên cứu ………………………………………………………………………34. Phạm vi nghiên cứu ………………………………………………………………………..35. Phương pháp nghiên cứu …………………………………………………………………3B. Phần nội dung chính ……………………………………………………………………………4Chương I. Khái quát về thơ điếu trong nền văn học Việt Nam ………………..41.1. Vài nét về thơ điếu của văn học trung đại Việt Nam………………….41.2. Vài nét về thơ điếu của Nguyễn Đình Chiểu …………………………….4Chương II. Vài nét về hình tượng người anh hùng trong thơ điếu…………….52.1. Người anh hùng đánh giặc………………………………………………………..52.2. Vai trò của người anh hùng đánh giặc……………………………………….62.3. Khí tiết của người anh hùng và lòng tiếc thương vô hạn…………….72.4. Vài nét nghệ thuật ……………………………………………………………….. 9KếtLuận………………………………………………………………………………………………10Tài liệu tham khảo …………………………………………………………………………………1112

Xem thêm  Điện thoại iPhone tụt pin qua đêm

Thuộc website harveymomstudy.com

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.